Quán triệt sâu sắc các chủ trương, nghị quyết của Đảng về chuyển đổi số và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, các cấp ủy, tổ chức đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ nhiều giải pháp thiết thực. Quá trình này đã tạo chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức thành hành động cụ thể, từng bước nâng cao chất lượng, tư duy đổi mới và năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đạt được những kết quả nổi bật:
Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà và đoàn công tác thăm Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Vĩnh Tế, tỉnh An Giang_Ảnh: TTXVNKết quả đạt được thời gian qua và một số hạn chế, điểm nghẽn
Một là, thể chế, thẩm quyền được phân định mạch lạc, tạo không gian pháp lý rõ ràng, giúp đội ngũ cán bộ giải phóng tư duy quản trị và nâng cao năng lực thực thi công vụ. Hệ thống chính trị đã ban hành đồng bộ các văn bản mang tính chiến lược, gồm 4 văn kiện của Trung ương, 61 kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và 591 nhiệm vụ cụ thể. Thể chế quốc gia được củng cố vượt bậc qua việc sửa đổi Hiến pháp, ban hành Luật Chuyển đổi số năm 2025, 94 luật, 28 nghị quyết của Quốc hội cùng 467 văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ. Sự phân định rành mạch thẩm quyền giữa các khối cơ quan, nổi bật là khối Chính phủ và ủy ban nhân dân với 8.560 nhiệm vụ (trong đó Trung ương giữ 6.052 nhiệm vụ, cấp tỉnh 1.570 nhiệm vụ, cấp xã 938 nhiệm vụ) cùng khối Đảng đảm nhiệm 817 nhiệm vụ(1) đã khắc phục triệt để tình trạng đùn đẩy, chồng chéo chức năng. Đội ngũ cán bộ các cấp bước đầu hình thành tư duy chủ động, linh hoạt, chuyển biến mạnh mẽ từ phong cách hành chính thụ động sang năng lực kiến tạo phát triển.
Hai là, việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy gắn với cơ cấu lại vị trí việc làm đã thúc đẩy đội ngũ cán bộ thích ứng linh hoạt với phương thức làm việc số và mô hình điều hành hiện đại. Toàn hệ thống chính trị đã sắp xếp tinh gọn từ 63 xuống còn 34 tỉnh, thành phố, kết thúc hoạt động của 696 đơn vị hành chính cấp huyện và thu gọn từ 10.035 xuống còn 3.321 đơn vị cấp xã. Tính đến ngày 31-3-2026, cả nước có 519.877 cán bộ, công chức (gồm 78.984 ở Trung ương, 93.696 cấp tỉnh và 347.197 cấp xã), vận hành khoa học theo danh mục 1.474 vị trí việc làm công chức và 705 vị trí việc làm viên chức. Giai đoạn 2022 - 2026, toàn hệ thống giảm 247.701 biên chế so với năm 2021, đạt quy mô tinh gọn 2.068.867 biên chế vào năm 2026(2). Cơ chế điều hành trực tiếp “Trung ương - tỉnh - xã” buộc đội ngũ cán bộ cơ sở phải nâng cao năng lực thực thi độc lập, làm chủ kỹ năng số và tác nghiệp hiệu quả trên môi trường mạng.
Ba là, năng lực ứng dụng công nghệ và tác nghiệp trên môi trường điện tử của cán bộ công quyền có bước tiến vượt bậc, tối ưu hóa năng suất phục vụ người dân và doanh nghiệp. Hệ thống chính trị đã triển khai quyết liệt 1.653 nhiệm vụ chuyển đổi số ở cả 4 khối cơ quan; đồng thời 5.136 thủ tục hành chính được công khai toàn diện trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Năng lực thực thi số của đội ngũ công chức được minh chứng cụ thể qua việc tiếp nhận, xử lý hơn 42,5 triệu hồ sơ, đạt tỷ lệ nộp trực tuyến 91,74%, tỷ lệ giải quyết đúng hạn duy trì trên 95% và số hóa đạt gần 95% với hơn 16,5 triệu hồ sơ. Việc đơn giản hóa 3.466 thủ tục hành chính và 1.754 điều kiện kinh doanh đã cắt giảm 53% thời gian thực hiện, 54,6% chi phí tuân thủ, tiết kiệm 23 nghìn tỷ đồng mỗi năm(3), khẳng định sự đổi mới phương thức làm việc công vụ.
Bốn là, tư duy đổi mới sáng tạo, phát triển các mô hình quản trị công nghệ số xuất hiện sinh động tại cơ sở, nâng cao chất lượng phục vụ và mức độ hài lòng của nhân dân. Hạ tầng mạng 5G phủ sóng 91,9% dân số với hơn 23 triệu thuê bao, kết hợp cùng nguồn ngân sách 25.000 tỷ đồng được Quốc hội phân bổ năm 2026 đã tiếp sức cho nhiều sáng kiến công nghệ đột phá. Đội ngũ cán bộ địa phương đã chủ động vận hành hiệu quả ứng dụng iHanoi, đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành (cơ chế giao ban “4 khối” gắn với xử lý điểm nóng tại cơ sở và mô hình “Giải quyết thủ tục phi địa giới hành chính” tại Hà Nội, Trạm công dân số, dịch vụ công trực tuyến 3 không, bản đồ số di sản, Làng số, Chợ số và ứng dụng trợ lý ảo AI). Văn hóa ứng xử công quyền chuyển biến sâu sắc khi 89,09% số ý kiến người dân ghi nhận không còn tình trạng nhũng nhiễu, sách nhiễu, thúc đẩy tỷ lệ hài lòng chung đạt 83,08%(4), phản ánh tư duy đổi mới công vụ thực chất.
Mặc dù hệ thống chính trị đã có nhiều nỗ lực trong cải cách hành chính và đẩy mạnh chuyển đổi số, song thực tiễn công tác cán bộ thời gian qua đang bộc lộ các điểm nghẽn cốt lõi dẫn đến cản trở việc hình thành đội ngũ công chức có năng lực số và tư duy thực thi hiện đại, đó là:
Thứ nhất, năng lực thể chế hóa và khả năng tổ chức thực thi nhiệm vụ số của đội ngũ cán bộ, nhất là ở cấp cơ sở, còn bộc lộ khoảng cách lớn so với yêu cầu phân cấp, phân quyền. Hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật và bản mô tả vị trí việc làm chưa kịp thời cập nhật, điều chỉnh tương thích với các nhiệm vụ mới phát sinh sau sắp xếp. Đáng chú ý, tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn chuyên sâu ở các lĩnh vực then chốt hiện nay chỉ chiếm 30%, dẫn tới tình trạng quá tải cục bộ khi cấp xã phải gánh vác tới 938 nhiệm vụ hành chính nhà nước và 252 nhiệm vụ công tác đảng(5). Sự thiếu hụt nhân sự am hiểu công nghệ thông tin và quản trị dữ liệu khiến việc hiện thực hóa các chủ trương chuyển đổi số tại cơ sở gặp nhiều lúng túng, chậm trễ, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng điều hành chính quyền.
Thứ hai, tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ sau sắp xếp phát triển chưa đồng đều, hiệu quả quản trị số chưa tương xứng với mục tiêu tinh giản đầu mối. Toàn quốc hiện vẫn còn 705/3.321 đơn vị hành chính cấp xã (chiếm tỷ lệ 21,23%)(6) chưa đạt đủ tiêu chuẩn theo quy định, gây khó khăn lớn cho việc chuẩn hóa quy trình làm việc số hóa. Cơ cấu chuyên môn của cán bộ còn mất cân đối nghiêm trọng giữa các vùng miền và lĩnh vực; công tác tuyển chọn, bố trí nhân sự tại một số cơ quan chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với đánh giá định kỳ hằng quý hay đo lường sản phẩm công việc đầu ra. Bên cạnh đó, chính sách đãi ngộ, thu nhập dành cho cán bộ cấp xã chưa thỏa đáng, làm suy giảm động lực đổi mới và khả năng thu hút chuyên gia giỏi.
Thứ ba, phương thức đào tạo, bồi dưỡng chậm đổi mới, nặng tính lý thuyết và xa rời thực tiễn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thời gian qua chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển của công nghệ. Các chương trình bồi dưỡng phần lớn vẫn triển khai theo lối mòn truyền thống, tập trung truyền thụ lý thuyết suông, thiếu các bài học thực hành xử lý tình huống số, quản trị dữ liệu hay ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công vụ. Số liệu khảo sát của Bộ Nội vụ năm 2025 cho thấy, hơn 62% số cán bộ, công chức cấp cơ sở phản ánh các khóa bồi dưỡng kỹ năng số còn mang tính hình thức, chưa bám sát nhiệm vụ chuyên môn hằng ngày(7). Tình trạng “học để lấy chứng chỉ” diễn ra khá phổ biến, chưa tạo chuyển biến thực chất về năng lực thực thi và tư duy đổi mới của người học sau đào tạo.
Thứ tư, môi trường làm việc số chưa đồng bộ và sự thiếu hụt văn hóa khuyến khích đổi mới sáng tạo. Mặc dù hạ tầng công nghệ thông tin đã được đầu tư, song sự thiếu đồng bộ, tình trạng cát cứ dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị vẫn diễn ra phức tạp, gây trở ngại lớn cho quá trình thực thi công vụ của cán bộ. Cùng với đó, văn hóa công sở tại nhiều nơi vẫn thiên về tư duy “tuân thủ quy trình” một cách cứng nhắc, thụ động. Theo Báo cáo Chỉ số cải cách hành chính, vẫn còn trên 40% số cán bộ, công chức bày tỏ sự lo ngại về rủi ro pháp lý khi đề xuất áp dụng các giải pháp công nghệ mới hoặc quy trình công việc đột phá do thiếu cơ chế thử nghiệm pháp lý (sandbox) và hành lang bảo vệ rõ ràng(8). Tâm lý e ngại sai phạm, sợ trách nhiệm đã triệt tiêu động lực sáng tạo của bộ máy.
Thứ năm, cơ chế thu hút, trọng dụng và bảo vệ nhân tài công nghệ chưa đủ sức hấp dẫn. Chính sách tiền lương, đãi ngộ và môi trường làm việc trong khu vực công hiện nay chưa tạo được sức hút đủ lớn đối với các chuyên gia, nhân tài có trình độ cao về công nghệ thông tin và quản trị số. Theo thống kê, giai đoạn 2023 - 2025, có gần 15% số nhân sự chuyên trách công nghệ thông tin tại các cơ quan nhà nước chuyển sang khu vực tư nhân do khoảng cách thu nhập và áp lực công việc(9). Bên cạnh đó, cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung ở một số nơi vẫn chưa được cụ thể hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành trực tiếp, khiến nhân tài chưa phát huy tối đa năng lực.
Thứ sáu, tính kết nối, chia sẻ dữ liệu công vụ còn rời rạc, làm suy giảm đáng kể hiệu quả thực thi và tính liên thông trong quản trị công sở số hiện đại. Chất lượng cơ sở dữ liệu chuyên ngành tại nhiều cơ quan, ban, ngành chưa bảo đảm đầy đủ các nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống”, gây nên tình trạng cát cứ thông tin và phân mảnh dữ liệu. Đáng lo ngại, hiện vẫn còn 5/12 cơ sở dữ liệu quốc gia trọng yếu và 44/104 cơ sở dữ liệu ngành chưa được kết nối, tích hợp đồng bộ về Trung tâm dữ liệu quốc gia(10). Sự thiếu hụt hạ tầng kết nối liên thông khiến đội ngũ cán bộ phải thao tác thủ công, làm chậm tiến độ giải quyết hồ sơ liên thông và hạn chế năng lực phân tích dữ liệu phục vụ hoạch định chính sách.
Thứ bảy, công tác quản trị nguồn lực tài chính, tài sản công và ứng dụng công nghệ phục vụ hoạt động cơ quan nhà nước còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Trình độ quản lý tài chính, ngân sách và phân bổ vốn đầu tư công của đội ngũ công chức ở một số xã, phường chưa đáp ứng kịp khối lượng công việc tăng cao. Tiến độ rà soát, xử lý tài sản công và trụ sở dôi dư sau sắp xếp còn chậm trễ, khi tại các bộ, ngành Trung ương còn 702 cơ sở và ở các địa phương còn tới 11.423(11) cơ sở chưa được xử lý, khai thác triệt để. Tình trạng lãng phí cơ sở vật chất kéo dài, kết hợp với hạ tầng thiết bị số tại cơ sở chưa đồng bộ, đã cản trở mạnh mẽ nỗ lực hiện đại hóa công sở.
Giải pháp trọng tâm trong bối cảnh mới
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” đề ra yêu cầu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, cán bộ lãnh đạo, quản lý có tư duy đổi mới, sáng tạo, có năng lực số và khả năng thực thi hiệu quả trong môi trường số”(12). Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh việc: “Xác định các động lực tăng trưởng mới và lấy khoa học, công nghệ là trọng tâm để thay thế, thúc đẩy, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống”(13). Từ những yêu cầu trên, trong thời gian tới, để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có năng lực số, tư duy đổi mới và năng lực thực thi, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, chuẩn hóa hệ thống tiêu chuẩn chức danh gắn với năng lực số và kỹ năng công nghệ. Trong kỷ nguyên mới, việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức không thể tách rời yêu cầu về năng lực số. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thật sự có đức, có tài, không ngừng tự đổi mới, ngang tầm nhiệm vụ”(14). Để thực hiện mục tiêu này, các cơ quan chức năng cần rà soát và ban hành quy định mới về tiêu chuẩn chức danh, trong đó năng lực số phải là tiêu chí cứng, được định lượng hóa thay vì đánh giá cảm tính. Việc chuẩn hóa này nhằm hình thành khung năng lực rõ ràng, giúp mỗi cán bộ tự nhận diện được khoảng cách năng lực của bản thân để chủ động học tập, rèn luyện. Cần xây dựng lộ trình cụ thể cho việc chuyển đổi nhân sự từ tư duy hành chính đơn thuần sang tư duy quản trị số, coi đây là tiêu chuẩn đạo đức công vụ trong thời đại mới.
Hai là, đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng theo hướng “học đi đôi với hành”, khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn. Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, công tác đào tạo, bồi dưỡng phải được đổi mới căn bản theo hướng khắc phục tình trạng nặng về lý thuyết thuần túy để chuyển mạnh sang chú trọng trang bị kỹ năng thực tiễn, năng lực xử lý linh hoạt các tình huống phát sinh từ cơ sở, nhất là năng lực, kỹ năng làm việc trong môi trường số. Các chương trình bồi dưỡng cần được thiết kế sát thực tế, tập trung vào các nội dung trọng tâm như quản trị dữ liệu, bảo đảm an ninh mạng và ứng dụng hiệu quả mô hình chính phủ số vào quản lý, phục vụ đời sống nhân dân. Tận dụng các nền tảng học tập trực tuyến hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ chủ động cập nhật kiến thức thường xuyên, liên tục mà vẫn bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn được giao. Đặc biệt, cần đưa công nghệ giả lập vào giảng dạy, cho phép cán bộ tập dượt trong việc xử lý các tình huống số giả định trước khi áp dụng vào thực tế công việc.
Nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ và tác nghiệp trên môi trường điện tử cho đội ngũ cán bộ,công chức, viên chức_Ảnh: dantri.com.vn Ba là, thiết lập môi trường làm việc số và văn hóa đổi mới sáng tạo. Để thúc đẩy tư duy đổi mới trong bộ máy, việc thiết lập môi trường làm việc số và xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo là yếu tố tiên quyết. Quán triệt tinh thần Đại hội XIV của Đảng: “Xây dựng môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo, kiến tạo phát triển, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”(15), cần sớm thể chế hóa, xây dựng khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các ý tưởng, mô hình đổi mới sáng tạo, tạo môi trường thuận lợi để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám thử nghiệm các giải pháp công nghệ mới mà không bị bó buộc bởi những quy định đã cũ. Chuyển đổi từ tư duy tuân thủ quy trình hành chính một cách cứng nhắc sang tư duy kiến tạo phát triển và tối ưu hóa kết quả, lấy hiệu quả công việc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo cao nhất. Người đứng đầu các cấp ủy, cơ quan, đơn vị phải thực sự là hạt nhân quy tụ, nêu gương sáng, khơi dậy tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm và sẵn sàng vượt qua những rào cản, điểm nghẽn về thủ tục để mang lại giá trị thiết thực cho nhân dân. Xây dựng môi trường làm việc mở, kết nối thông suốt, nơi dữ liệu được chia sẻ và sáng kiến được tôn trọng, giảm bớt giấy tờ và tăng tính tương tác với người dân.
Bốn là, thực hiện cơ chế đánh giá cán bộ bằng dữ liệu thực. Việc xây dựng hệ thống đánh giá cán bộ bằng dữ liệu thực là giải pháp đột phá để nâng cao tính minh bạch, công bằng trong công tác cán bộ. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng yêu cầu cần: “Thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ và đột xuất... coi dữ liệu, chỉ số và phản hồi của nhân dân là một căn cứ quan trọng để điều chỉnh chính sách và xử lý trách nhiệm(16). Do đó, cần xây dựng phần mềm quản lý cán bộ chuyên nghiệp, tích hợp kết quả công việc vào hệ thống đánh giá tự động thay vì dựa trên nhận xét cảm tính hằng năm. Mỗi cán bộ sẽ được đo lường bằng các chỉ số KPI cụ thể, minh bạch về khối lượng công việc, tiến độ hoàn thành và mức độ hài lòng của người dân. Việc chuyển đổi sang phương thức đánh giá dựa trên dữ liệu giúp loại bỏ tình trạng “tranh công, đổ lỗi”, bảo đảm công tác đánh giá cán bộ thực sự công tâm, khách quan.
Năm là, xây dựng cơ chế thu hút và trọng dụng nhân tài có tư duy đột phá. Trong kỷ nguyên số, cuộc đua thu hút nhân tài là cuộc đua về chế độ và môi trường làm việc. Đảng ta xác định mục tiêu đột phá: “Xây dựng cơ chế đặc thù về thu nhập, môi trường làm việc, đề bạt, bổ nhiệm để thu hút, sử dụng các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành, doanh nhân công nghệ, nhân tài là người Việt Nam ở nước ngoài”(17). Để cụ thể hóa chủ trương này, cần xây dựng hệ thống chính sách tiền lương và đãi ngộ đủ sức cạnh tranh, đặc biệt là đối với các chuyên gia về công nghệ, quản trị số để họ yên tâm cống hiến. Quan trọng hơn, cần cơ chế để họ được trực tiếp tham gia vào quá trình hoạch định chiến lược, nhất là đối với lĩnh vực mũi nhọn. Bên cạnh đó, cần chú trọng thực hiện tốt phương châm: “Kết hợp nghiêm minh kỷ luật với cơ chế bảo vệ hiệu quả cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”(18), tạo điều kiện bảo đảm để nhân tài yên tâm đóng góp, giúp nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi trong môi trường số. Năng lực thực thi chỉ thực sự hiệu quả khi gắn liền với kỷ luật nghiêm minh và công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Nghị quyết của Đại hội XIV khẳng định: “Tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực”(19). Để hiện thực hóa điều này, cần thiết lập hệ thống giám sát thời gian thực đối với các đầu việc công vụ thông qua hạ tầng số. Công tác kiểm tra phải chuyển đổi từ tiền kiểm sang hậu kiểm, lấy kết quả thực thi cuối cùng làm mục tiêu để đối chiếu. Việc sử dụng công nghệ số giúp phát hiện sớm các dấu hiệu sai phạm ngay khi mới manh nha, là công cụ rèn luyện ý thức tự giác của người cán bộ. Công tác kiểm tra cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng, ứng dụng công nghệ để liên thông dữ liệu, đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát trên dữ liệu, nhất là trong việc theo dõi, kiểm soát tài sản, thu nhập và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, qua đó góp phần bảo vệ cán bộ dám nói, dám làm, phát hiện điểm nghẽn trong khâu thực thi để điều chỉnh kịp thời. Kiểm tra, giám sát trong môi trường số còn giúp tiết kiệm thời gian, nhân lực, đồng thời tạo ra sự công bằng trong bộ máy. Đây là yếu tố then chốt để củng cố kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm mọi chính sách khi ban hành đều được thực thi đúng đắn, mang lại lợi ích thực sự cho nhân dân. Việc xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại đòi hỏi một hệ thống giám sát nghiêm minh, dựa trên dữ liệu khách quan, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đã được đề ra.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có năng lực số, tư duy đổi mới và năng lực thực thi vượt trội là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp bách, vừa mang tính lâu dài của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trở thành lực lượng nòng cốt, dẫn dắt công cuộc chuyển đổi số quốc gia, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước, thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra, đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới./.
------------------------
(1), (2), (3), (4), (5), (6) Ban Chấp hành Trung ương: Báo cáo Sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp tại Hội nghị sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, ngày 1-7-2026
(7) Xem: Bộ Nội vụ: Báo cáo khảo sát thực trạng năng lực số và nhu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp cơ sở, Hà Nội, 2025, tr. 18
(8) Bộ Nội vụ: Báo cáo Chỉ số Cải cách hành chính (PAR INDEX) năm 2024 của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hà Nội, 2025
(9) Bộ Nội vụ: Báo cáo thực trạng biến động nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân sự công nghệ thông tin trong khu vực công giai đoạn 2023 - 2025, Hà Nội, 2025, tr. 29
(10), (11) Ban Chấp hành Trung ương: Báo cáo Sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp tại Hội nghị sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp, ngày 1-7-2026
(12), (14) Xem: Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”
(13) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 91
(15), (16), (17), (18), (19) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 23, tr. 28, tr. 177, tr. 35, tr. 28